Trần Ngọc Hưởng và
Thèm Chút Hương Quê

Thèm Chút Hương Quê đến với người đọc như chúng tôi sống lưu xứ từ nhiều tháng năm, đã gây đồng cảm thật nồng nàn và đặc-biệt. Một hơi 63 bài thơ cũng đồng nghĩa một mạch sống lại, với cảm xúc và ký ức, triền miên, liên tục và đâu đó nghe như có tiếng vọng lại, có lời thì thầm cơ hồ đã thân quen. Thơ Trần Ngọc Hưởng, tức của người khác, mà như tiếng sóng của lòng mình, của trí tưởng, của những tưởng mất nay tình cờ gặp lại, v.v. 
Bởi thời-gian bao trùm thơ Trần Ngọc Hưởng: thời-gian ở Thèm Chút Hương Quê là có thực dù có khi mang dáng dấp tham-chiếu, làm nền. Thật vậy, thi-ca hóa quá khứ hay quá khứ cần đến văn-chương, tức người làm văn-chương có thể cũng có nhu cầu đặt thời-gian quá vãng lên bàn thờ tâm thức. Văn-chương có thể trở thành một trị liệu cho người sống xa xứ hoặc là một giải tỏa tâm lý cho người dù không thực sự xa nhưng vì nhiều lý do không hoặc chưa có dịp trở về. Chúng tôi cảm nhận nhà thơ kiếm tìm thời-gian qua lối thơ vừa véo von con chữ kể lể vừa nhớ nhung trong từng chi tiết vừa tâm thức mãi tìm và đối với nhà thơ, thời-gian đã là nổi ám ảnh khôn nguôi và quê-hương đã là tất cả... Những kỷ niệm như làm cho người ta níu kéo được cuộc sống dù là một phần sống đã mất tăm mất hút trong cái biền biệt của thời-gian.
“Phồn hoa lấm bụi lâu rồi,
Mà hồn ai vẫn hồn người nhà quê
Dòng sông bến nước trăng thề,
Đồng thơm gió lộng bốn bề bao la.
Phố người vần vũ phong ba,
Mà hồn ta vẫn hồn ta yên bình
Thả dòng lục bát mong manh,
Vào miền cố lý ngọn ngành tình quê
Vượt lên cuộc sống bộn bề,
Ủ cho cây gốc sum suê lá cành.
Ai hư danh đánh mất mình,
Ta đeo mang một chữ tình ấy thôi
Bao năm lăn lóc phố người,
Khát khao bên lở bên bồi biết đâu
Ai dù triết lý cạn sâu,
Mà ta vẫn quyến lấy câu thật thà (…) ” (Hát Khúc Quê Mùa)

Thật vậy, Trần Ngọc Hưởng trở về chốn xưa để tìm, để sống lại, để nhận chân, để chứng kiến "cái còn lại", hữu hình và cả vô hình hay trong tiềm thức. Tình thơ dại thời non trẻ đã qua, một phút chốc nào đó trở về, được nhớ lại dù thường tình thì thứ tình thoáng qua đó được người đời cho ... qua luôn, để lại nơi chốn xưa, thời cũ, bỏ lại trong cái có thể gọi là bóng tối – nơi thích hợp cho kỷ-niệm. Nhưng, ví như nhà thơ nòi tình không thể quên hoặc không tìm quên thì sự nhớ nhung trở về đem theo những hứa hẹn đã cũ, những mơn trớn chỉ còn trong trí tưởng đã quên lãng, những bóng hình, mùi hương, cùng những giấc mơ tưởng-đã-quên,... vô tình hay cố tâm sẽ làm phong phú thi ca. Nhung nhớ gây nhiều bất ngờ, cả làm sống lại những việc đã được giải quyết nhưng có thể chưa hẳn vì vẫn còn luôn ám ảnh.
Đồng hành và với tài thơ của Trần Ngọc Hưởng, độc-giả được cùng làm một chuyến đi tìm chính mình, qua những kiếm tìm quá-vãng, chốn xưa, tuổi thơ và cả tình cũ,... Nỗi nhung nhớ day dứt đó sẽ vơi bớt khi người ra đi có thể trở về chốn xưa. Dĩ nhiên trở về với hành trang mỗi con tim, sẽ có những cảnh như Qua Bờ Nhớ Quên, Đâu Mảnh Trời Quê,... vì nhà thơ giàu tình cảm nên giàu tưởng tượng, tưởng nghĩ lúc về quê sẽ tìm lại một thời đã xa!
“Tình quê men ủ rượu quê,
Dạt trôi mấy cũng tìm về cõi thơ.
Lưng thon thả tóc hững hờ,
Búp chân trần, ngó sen tơ đầm làng.
Tiếng gà vỡ vụn dòn tan,
Gối đầu lên cỏ dịu dàng giấc quê.
Cho ai trăm nẻo đi về,
Gió tâm linh lộng bốn bề chiêm bao...” (Ngược Lối Về Quê)
Một góc yêu thương, một góc tối với nhà thơ nhiều khi ắp đầy nồng ấm hoặc ánh sáng của tâm thức.
“Mấy phen lưu lạc một phen về,
Chân đất đầu trần trở lại quê.
Đại mộc lưu giang hồi cố giả
Trải bao biến đổi sá chi hề.
Tìm bóng trâu già nhơi lại cỏ
Lòng còn đọng vũng dấu nằm xưa
Ơi hương cỏ dại hương rơm rạ
Hương lúa ba trăng buổi được mùa...” (Làng Quê Tuổi Thơ)
Thời gian tuổi trẻ thường được xem là đẹp nhất, đã mất, nay mơ hồ tìm lại được. Hãy nghe nhà thơ tâm sự với sông nước:
“Tách dòng Cửa Tiểu tôi đi,
Lá sầu đâu đắng cớ chi đắng hoài.
Điệp trùng sóng đập trên vai,
Dỗ dành tôi suốt chuỗi dài xa quê.
Giạt bềnh bồng, giạt mỏi mê,
Lục bình giạt lạc lối về bến xưa.
Đầu sông nắng, cuối sông mưa,
Lặng nghe guốc mộc nhặt thưa qua phà.
Trĩu lòng hình bóng quê ta,
Cả ba má cả ông bà tổ tiên.
Ấm nồng điệu lý chim quyên,
Sông còn thơm suốt trăm miền tôi qua.
Trời mây Tân Thới thiệt thà,
Chợt gần chợt hóa ra xa mịt mờ
Quê người mấy lượt nằm mơ,
Muôn trùng sóng vỗ tìm bờ bến đâu.
Trăng thần thoại lặn đã lâu,
Dừa cau vườn cũ chờ nhau bạc đầu.
Gánh tình đổ bóng về đâu,
Vuốt sao cho phẳng nếp nhàu, sông ơi!” (Sông Ơi).
Vì “Ai không có một dòng sông,
Một đời trầm lắng chày trong hồn mình.
Miệt mài nước mải miết xanh,
Thả từng con sóng nuôi tỉnh hoài hương.
Trong tôi dòng Cửa Tiểu buồn,
Lục bình tím nở vấn vương lở bồi
Ngọn vàm Tam Lạch chiếc nôi,
Đong đưa đùm bọc từ tôi chào đời (…)” (Hồn Năm Tháng Cũ).
Tiếng gọi quê-hương thôi thúc, nhà thơ phải tìm về, như trong Quê Quán Tôi Xưa:
“Dọ tìm quê quán tôi xưa,
Hỏi thăm từ nhịp võng đưa khuất chìm.
Thơ Vân Tiên, tiếng độc huyền,
Gió mênh mang bến, đèn lim dim thuyền.
Hỏi trăng vàng đậu ao sen,
Mải hong gió tóc cô em đêm nào.
Hỏi cổ tích, hỏi ca dao,
Hỏi xanh thắm, hỏi ngọt ngào … hương sen.
(...) Hỏi vu vơ lại gặp mình,
Oằn vai gánh một khối tình đa mang.
Có quê quán có họ hàng,
Vàng hoa mướp nở xóm làng trăm năm”.
Quá khứ ở Trần Ngọc Hưởng đầy hình ảnh, âm thanh và cả mùi vị: về quê, quê-hương vẫn còn đó, rơm rạ, mùi quê – trong Sợi Khói Đồng Thơm hoặc Thơm Mùi Rơm Rạ:
“Bếp lửa chiều lên khói,
Thơm mùi rơm rạ quê.
Cả mùi cơm gạo mới,
Như rủ rê tôi về (...)”.
Người con đi xa nay đã trở về sẽ được có dịp “hát khúc quê mùa”, thưởng thức rượu quê (“Cất từ hạt nếp Gò Đen, / Nước sông Vàm Cỏ hóa men rượu nồng...”), đứng giữa bến Xuân để hóng “gió thương yêu”, ra sông nhìn con nước chảy giữa những hàng dừa, được đi đò dọc sông đêm, và tại sao không “tắm lại sông quê” để sống-lại tuổi thơ? 
Chỉ là thèm chút hương của quê và dù đã có những lúc thật sự trở về, nhưng hình như những vùng đất quê đó nay đã ít nhiều đổi thay theo thời gian và sinh mệnh dân tộc, đã nhuốm ít nhiều điêu tàn, tang thương, hoặc có những cảnh vật tưởng như xưa, nhưng bóng hình và con người nơi đó nay đã xiêu bạt nơi đâu,... khiến cho bức tranh không trọn vẹn... Trần Ngọc Hưởng đặc-biệt yêu người nữ qua mái tóc mà Thương Lắm Tóc Dài chỉ là một thoáng nhớ nhung:
“Phố trưa đọng nét u hoài,
Mua chi tóc rối tóc dài… mà rao.
Chao ôi dù sợi tóc nào,
Chẳng từ âu yếm ngọt ngào dài ra.
Săm soi từ tuổi mười ba,
Soi gương chải lược cài hoa thắm màu
Hương chanh, hương bưởi thơm lâu,
Hương bồ kết đến bạc đầu chưa nguôi
Tóc tiên từ bén tay người,
Hân hoan hát mãi muôn lời vu vơ
Sợi dài sợi ngắn vào thơ,
Từng câu lục bát đôi bờ vấn vương
Bổng trầm điệu nhớ điệu thương,
Tóc tơ nồng đượm lửa hương một thời?
Sợi nào anh tỏ tình tôi,
Sợi nào phụ rảy để rồi lãng quên…
Sợi thao thức, sợi ngủ yên,
Sợi ngày xuân muộn, sợi đêm lỡ thì
Sợi nhận đươc, sợi cho đi
Sợi an trú dưới nhu mì của em (…)”.
Khi không về được quê, nhà thơ cực chẳng đã đã phải nhắn nhủ (Về Quê Dịp Tết),... Và đôi bài nhắc nhở nhà thơ thời sinh viên đại học Văn Khoa phải lên ở Sài-Gòn, nơi có những gặp gỡ tươi vui, bất ngờ và cả những tình cảm không trọn vẹn (Yêu Người Kinh Bắc, Thương Câu Quan Họ, Trách Em Quan Họ, Người Ở Đừng Về,...).
Được xem Thèm Chút Hương Quê với chúng tôi như một đặc ân, được tác giả cho nhìn lại và nhìn thấy quê hương, được tận hưởng như sống động ngay trước mắt không gian và nhịp sống của những miền quê hương, đất nước, dẫu đó trước hết là quê hương riêng của tác giả, vùng Long An, Mỹ Tho, và dẫu đa phần là “hương hoa” của một vùng đất nước, và được “nhìn thấy” lại những con người chân chất – dù có khi màu mè, đa dạng trong một bức tranh nhiều tấm, màu đậm đặc có, mờ ảo cũng có, nhưng có những cái chung vẫn còn có thể tìm thấy được, “nhìn ra” được!
Và phải yêu quê-hương lắm mới có những cảm xúc nguyên sơ, những phản ứng tự nhiên trước cảnh cũ người xưa – dù cảnh có đổi thay, người đã xa, … và tình cảm này biểu lộ suốt toàn cả thi tập, một tấm lòng nguyên vẹn trước sau, không chịu đổi thay! Độc giả dễ bị nhiễm nổi niềm “thèm chút hương quê”, nổi niềm dễ đồng cảm,... Hồn quê cũ cộng với những thời-gian và không-gian đã xa tầm với của hiện tại... Không khí thơ của Trần Ngọc Hưởng thu hẹp trong cuộc đời bình thường của một con dân vùng Tiền-giang làm học trò ở quê rồi lên thủ đô Sài-Gòn trọ học với những cuộc tình đầu đời, vụng về, nơi lớp học...
Quá khứ và hiện tại cùng sống động, do đó có khi thứ tự thời gian như bị xáo trộn trong việc ghi đậm dấu tâm thức qua các đề tài thời gian và ký ức, vọng về, xưa-nay, tưởng-đã-quên-nay-tìm-lại. Con chữ thi ca đến như cứu-cánh tự tại, qua trình bày và biểu thị cái che đậy hoặc chưa khám phá của bản ngã. "Cái còn-lại", một từ ngữ của Hậu hiện-đại, trở thành sự chấp nhận tiêu cực, cái lẩn quẩn quấy rầy bởi sự hiện diện của nó, một thứ hiện diện đâu đó. Còn-lại cũng là cái sừng sững, chưa mất, chưa bị triệt tiêu, một từ ngữ diễn tả ý tưởng nặng nề và mờ đục về vật chất cũng như tâm linh. Xuyên qua quá trình trở-về, đi-tìm, cái còn lại diễn biến rời khỏi vật chất vì yếu tố được sủng ái của nó là thời-gian, vì cái còn lại ở với thời-gian!

Thơ Trần Ngọc Hưởng đa dạng về thể-loại, chữ dùng tượng hình, giàu âm thanh và rất đặc-biệt của miền Lục Châu, như một đoạn trong bài Bóng Nắng Chiều Tan: 
“Tôi trở về ngắm lại bến sông xưa,
Dòng Cửa Tiểu đung đưa mùa trở gió
(...) Còn lại đây một khoảnh khắc trầm ngâm
Dòng Cửa Tiểu mở lòng luôn độ lượng
Cho tôi phút thả hồn mình, cúi xuống
Nhặt lên từng con sóng vỡ… ngày qua
Được một lần tắm lại nước phù sa,
Gội sạch cả phấn hoa đời phố thị 
Con sáo cũ bay hoài theo điệu lý
Đợi cơn triều buông xõa… nỗi hân hoan
Sau bao lần mắc kẹt cõi nhân gian
Thuyền nhỏ xíu tham chi mà chở nặng (...)”.
Quá khứ thành lời thơ một lần rồi thôi, mà cũng có thể lập lại, kéo dài hết tập thơ này qua tập khác, hay cả tập thơ; một lần rồi thôi, hoặc cứ mãi quy hồi trong con chữ! Hy vọng Trần Ngọc Hưởng sẽ cho độc giả những vần văn-chương khác với những trở-về đầy cảm xúc!

Nguyễn Vy Khanh 
(xứ người, 11-11-2016)

Bìa: Họa Sĩ VI Vi